Van hoa - Lich su - Du lich Cao Bang

Share |

Sli, lượn của người Tày - Nùng Cao Bằng

Hiện nay tỉnh Cao Bằng có trên 60 vạn dân, gồm nhiều dân tộc, trong đó, người Tày - Nùng chiếm trên 75%. Trong sinh hoạt văn hoá - văn nghệ, người Tày - Nùng dùng Sli - Lượn là những khúc dân ca được xướng lên cao giọng để nhiều người cùng nghe.

Người Tày có lượn cọi, lượn sương, lượn then, lượn ngạn. Người Nùng có lượn phủ, Hèo phươn (người Nùng An), Sli Giang (vùng Hà Quảng); Sli La Hòi (người Nùng lòi ở Quảng Uyên, Phục Hoà).

Sli - lượn có hai cách hát: hát đơn và hát đôi. Hát đơn có Sli Là Hòi, lượn cọi, lượn then, lượn sương, lượn tại. Hát đôi có lượn ngạn, lượn phủ (tức lượn Hà Lều); Sli Giang và Hèo phươn (lượn Nùng An). Những điệu hát truyền thống đó luôn phải có đôi, giọng cao, giọng thấp nâng đỡ nhau. Có giai điệu ổn định, cách hát có nền nếp từ lâu.

Sli - Lượn có những đặc trưng riêng: chỉ dùng thanh nhạc, không có nhạc khí đệm. Ca từ có 2 hoặc 4 câu. Mỗi câu 5 tiếng hoặc 7 tiếng cách gieo vần khác nhau tuỳ từng loại (vần lưng, vần chân).

Mở đầu có đoạn hư từ dạo trước, có thể là ì i í ì i (lượn phủ); ơ hời (Lượn Ngạn), chờ cờ (Sli Giang); giữa câu lại có hư từ vút cao sau phần gieo nhằm gây chú ý; cuối câu có hư từ lều (nghĩa là hết) hoặc Hà lều hều đài hà đới... Khi hát mỗi người thường bịt một tai bằng tay, tai kia tập trung nghe giọng bạn hát để điều chỉnh giọng mình cho phù hợp.

Sli - Lượn không thể diễn đạt hết tâm sự trai gái - không khi nào người ta hát vang to những điệu từ đáy lòng cho mọi người nghe. Qua Sli - Lượn nhằm làm quen, ướm thử lòng, thẩm định khả năng biến báo, trí thông minh, tài ứng đối của người bạn khác giới. Sau Sli - Lượn nếu thuận ý, họ tản ra từng đôi trai gái trao đổi tâm tình. Lúc đầu họ còn e dè nói với nhau bằng văn vần (Phuối rọi), sau quen rồi, nói xuôi với nhau, không còn kiểu cách trung gian nữa.

Sli - Lượn mang đậm thổ âm, sắc thái ngôn ngữ từng địa phương, khó chỉnh theo âm chuẩn Tày - Nùng. Làm như vậy thành ra cọc cạch, trái vận, không còn gợi cảm thú vị nữa. Hình thức Sli - Lượn hát đôi xuất phát từ các điều kiện sau: ý thức cố kết cộng đồng của dân tộc ít người lắm lúc hơi quá mức. Nhiều khi gặp toán thanh nữ đi chợ, họ đều mặc trang phục thống nhất giống nhau từ kiểu quần áo, màu sắc, cách vấn khăn, thắt lưng, vòng xuyến, xà tích tới nón, giày. Tâm lý họ ngại những gì khác với lẽ thường, không muốn nổi trội hơn, xung quanh luôn cần có người có trang phục, ăn nói tương tự để hỗ trợ mình. Xưa kia rừng núi biên cương heo hút, nhiều bất trắc rình rập, uy hiếp, qua rừng có hổ, rắn, đến chỗ đông người lại sợ kẻ lạ bắt nạt. Thanh niên đi xa làm việc gì cũng phải rủ người đồng hành, gọi là Pây Pậu, nghĩa là đi phù. Tộc người càng ít, bản làng càng hẻo lánh thì việc kết bạn càng cấp thiết. Đã có hai người (trở lên) cùng đi, gặp trai (gái) bản lạ bắt lượn làm quen, chả nhẽ một người lượn đáp, một người chờ suông cho nên hình thức hát đôi được thiết lập.

Hình thức hát đôi tạo việc kết bạn làm quen dễ dàng, thuận lợi. Giả dụ có hai cô gái qua bản, trai bản mời lượn, hai cô khiêm tốn từ chối rằng lượn không thạo. Trai bản có thể nhờ một cô gái trong bản kèm lượn. Mới đầu nhận đi giọng cao, mấy khúc sau đi giọng trầm, rồi trao hẳn cho khách. Hai cô khách thể nào cũng lượn tới cùng.

Đi hát, đi lượn dễ trở thành thân thiết, đi đến kết tồng. Kết tồng là hình thức nhận bạn đồng canh, coi nhau như chị em ruột trong gia đình. Đó là tục lệ địa phương.

Sli - lượn là những khúc hát của người trưởng thành. Trẻ em chưa hiểu còn người già thì thôi hát. Người ta Sli - Lượn chủ yếu thời thanh xuân. Hoa có xuân, người có thì. Chưa tới thì hoặc quá thì mà Sli - Lượn bị coi là bất bình thường, lạc lõng. Những người trung niên vẫn có thể Sli - Lượn, nhưng tránh các khúc giao duyên, chỉ hát những khúc hoan hỉ, đứng đắn mừng hội ngộ, mừng nhà mới, mừng thọ...

Hoàng Quỳnh (Theo Báo điện tử Cao Bằng)

Comments  

 
0 #1 nông văn hùng 2012-11-08 11:33
mình muốn tìm những bài hát si lượn nhưng không biết tìm đâu
Quote
 

Add comment


Security code
Refresh